Nợ công của Séc tăng lên mức kỷ lục 3.882 tỷ korun sau ba quý
Praha – Nợ công của Cộng hòa Séc trong chín tháng đầu năm nay tăng 204,6 tỷ korun, lên mức kỷ lục 3.882 tỷ korun. Bộ Tài chính Séc công bố số liệu trên trong báo cáo quý về quản lý nợ công được công bố hôm nay.

Theo đó, về lý thuyết, bình quân mỗi người dân Séc đang gánh khoản nợ 356.046 korun. Tỷ lệ nợ công vào cuối quý III ở mức 43,9% tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tăng so với mức 42,9% GDP hồi đầu năm.
Theo Bộ Tài chính, nợ công gia tăng chủ yếu do Chính phủ phát hành trái phiếu để thanh toán các khoản nợ đến hạn và bù đắp thâm hụt ngân sách nhà nước. Tính đến cuối tháng 9, thâm hụt ngân sách đạt 194,5 tỷ korun.
Theo bản cập nhật tháng 7 của Chiến lược tài chính và quản lý nợ công, tổng nợ dự kiến tăng lên 3.991 tỷ korun vào cuối năm, tương đương 44,4% GDP.
Chi phí ròng dành cho trả lãi và quản lý nợ công trong ba quý đầu năm đạt 74 tỷ korun. Bộ Tài chính dự báo con số này trong cả năm sẽ lên tới 110 tỷ korun, so với 98,1 tỷ korun của năm ngoái.
Chi phí trả nợ tăng do quy mô nợ ngày càng lớn. Xu hướng lợi suất trái phiếu chính phủ tăng trên toàn cầu cũng góp phần đẩy chi phí đi lên.
Trái phiếu chính phủ Séc hiện có kỳ hạn trung bình 6,2 năm, gần với mục tiêu chiến lược 6,5 năm do Bộ Tài chính đề ra. Các ngân hàng trong nước nắm giữ khoảng 40% lượng trái phiếu chính phủ Séc, trong khi các nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ khoảng 28%.
Các hộ gia đình Séc sở hữu 5% lượng trái phiếu chính phủ. Tỷ lệ này tăng lên sau đợt phát hành “Trái phiếu Cộng hòa” vào tháng 7, so với mức 3,1% vào cuối nửa đầu năm.
Nợ công bao gồm các khoản nợ của Chính phủ, hình thành chủ yếu do thâm hụt ngân sách nhà nước tích tụ qua nhiều năm. Nợ được tài trợ thông qua tín phiếu kho bạc, trái phiếu chính phủ, các khoản vay trực tiếp hoặc vốn vay từ Ngân hàng Đầu tư châu Âu.
Diễn biến nợ công của Séc:
Đơn vị: tỷ korun (Kč)
Năm Nợ công
1993 158,8
1994 157,3
1995 154,4
1996 155,2
1997 173,1
1998 194,7
1999 228,4
2000 289,3
2001 345,0
2002 395,9
2003 493,2
2004 592,9
2005 691,2
2006 802,5
2007 892,3
2008 999,5
2009 1.178,2
2010 1.344,1
2011 1.499,4
2012 1.667,6
2013 1.683,3
2014 1.663,7
2015 1.673,0
2016 1.613,4
2017 1.624,7
2018 1.622,0
2019 1.640,2
2020 2.049,7
2021 2.465,7
2022 2.894,8
2023 3.110,9
2024 3.365,2
2025 3.677,6
Quý III/2026 3.882,2
Nguồn: Bộ Tài chính Séc/ČTK











