Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm ký ban hành Quy định mới về kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng ký ban hành Quy định 225 về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng.

Quy định 225 do Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm ký ban hành có hiệu lực từ ngày 14-10, thay thế Quy định 21 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng.
Đối với các trường hợp kiểm tra, giám sát đã thông qua dự thảo báo cáo thẩm tra, xác minh trước thời điểm Quy định 225 có hiệu lực, việc thực hiện tiếp tục áp dụng theo Quy định 21.
Mọi tổ chức đảng và đảng viên đều bình đẳng trước kỷ luật của Đảng
Quy định gồm 7 chương, 35 điều, quy định về công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, thi hành kỷ luật trong Đảng, giải quyết tố cáo, khiếu nại kỷ luật đảng, đình chỉ sinh hoạt đảng của đảng viên, đình chỉ sinh hoạt cấp ủy của cấp ủy viên và đình chỉ hoạt động của tổ chức đảng theo thẩm quyền.
Quy định nhấn mạnh nhiều nguyên tắc, trong đó công tác kiểm tra, giám sát phải kịp thời phát hiện nhân tố mới tích cực để phát huy, phải bảo vệ cái đúng, bảo vệ người tốt, cán bộ dám đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đột phá vì lợi ích chung.
Phải chủ động phát hiện sớm để phòng ngừa, ngăn chặn và khắc phục khuyết điểm, vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên ngay từ khi còn mới manh nha, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn, kéo dài và lan rộng.
Khi các vụ việc vi phạm được phát hiện, phải cương quyết xử lý kỷ luật nghiêm minh, kịp thời để răn đe và giáo dục.
Quy định cũng nêu phải tuân thủ đúng nguyên tắc, quy trình, thủ tục, thẩm quyền, phương pháp công tác theo quy định của Đảng, chủ động, kịp thời, công khai, dân chủ, khách quan, công tâm, thận trọng, chặt chẽ, chính xác, nghiêm minh.
Mọi tổ chức đảng và đảng viên đều bình đẳng trước kỷ luật của Đảng và đều phải chịu sự kiểm tra, giám sát của Đảng, không có ngoại lệ.
Việc xử lý kỷ luật phải gắn với tăng cường giáo dục, quản lý, làm cho tổ chức đảng, đảng viên nhận thức được khuyết điểm, vi phạm để khắc phục, sửa chữa và làm tốt hơn.
Quy định mới tiếp tục dành một chương nêu về công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, trong đó, có quy định về vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng, các cơ quan tham mưu, giúp việc cấp ủy, chi bộ, ủy ban kiểm tra các cấp… trong công tác kiểm tra, giám sát.
Quy định tiếp tục nêu rõ về quyền hạn của ủy ban kiểm tra và giữ nguyên các nội dung như đang thực hiện.
Trong đó, Ủy ban kiểm tra được quyền kết nối cơ sở dữ liệu của các cơ quan nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, đăng ký tài sản, đất đai, thuế, thanh tra, kiểm toán, truy tố, xét xử, thi hành án và các cơ sở dữ liệu khác để phục vụ cho công tác kiểm tra, giám sát.
Việc truy cập, sử dụng cơ sở dữ liệu thực hiện theo quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Khi tiến hành công tác kiểm tra, giám sát được sử dụng một số biện pháp ghi âm, ghi hình, niêm phong hồ sơ, tài liệu, yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền xem xét, quyết định áp dụng biện pháp phong tỏa tài khoản, kê biên tài sản, tạm hoãn xuất cảnh và các biện pháp khác theo quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Quy định mới giữ nguyên theo quy định 21 về cơ cấu tổ chức và số lượng ủy viên ủy ban kiểm tra các cấp.
Với Ủy ban Kiểm tra Trung ương, số lượng từ 23 đến 25 ủy viên (có 2 đến 3 ủy viên kiêm nhiệm), trong đó, không quá 1/3 là Ủy viên Trung ương Đảng. Thường trực Ủy ban Kiểm tra Trung ương gồm chủ nhiệm và các phó chủ nhiệm; số lượng phó chủ nhiệm do Bộ Chính trị quyết định.
Ủy ban Kiểm tra tỉnh ủy, thành ủy có số lượng từ 11 đến 13 ủy viên chuyên trách. Riêng Ủy ban Kiểm tra Thành ủy Hà Nội, Thành ủy TP.HCM có số lượng từ 13 đến 15 ủy viên chuyên trách (do cấp ủy quyết định).
Chủ nhiệm là Ủy viên ban thường vụ, từ 3 đến 4 phó chủ nhiệm (phó chủ nhiệm thường trực là cấp ủy viên) và một số ủy viên. Ủy ban Kiểm tra Thành ủy Hà Nội, Thành ủy TP.HCM không quá 5 phó chủ nhiệm.
Trường hợp nào thì Đảng viên vi phạm chưa bị xem xét, kỷ luật?
Tại nội dung về thi hành kỷ luật trong Đảng vẫn giữ nguyên 12 nguyên tắc như tại Quy định 21. Song có bổ sung thêm một số nội dung.
Cụ thể, Quy định 21 nêu đảng viên vi phạm đang trong thời gian mang thai, nghỉ thai sản, đang nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi hoặc đảng viên là nam giới (trong trường hợp vợ chết hoặc vì lý do khách quan, bất khả kháng khác) đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi; đảng viên bị bệnh nặng thì chưa xem xét, xử lý kỷ luật.
Trường hợp đảng viên vi phạm đã qua đời tổ chức đảng xem xét, không xử lý kỷ luật, trừ trường hợp có vi phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Còn tại Quy định 225 bổ sung cụ thể hơn. Theo đó, đảng viên vi phạm đang trong thời gian mang thai, nghỉ thai sản, đang nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi hoặc đảng viên là nam giới (trong trường hợp vợ chết hoặc vì lý do khách quan, bất khả kháng khác) đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì chưa xem xét, xử lý kỷ luật, trừ trường hợp đảng viên đó có văn bản đề nghị xem xét, xử lý kỷ luật.
Đảng viên đang trong thời gian điều trị bệnh hiểm nghèo hoặc đang mất khả năng nhận thức hoặc bị ốm nặng đang điều trị nội trú tại bệnh viện, có xác nhận của cơ quan y tế có thẩm quyền (bệnh viện đa khoa khu vực và tương đương trở lên) thì chưa xem xét, xử lý kỷ luật, khi sức khỏe ổn định (được ra viện) mới xem xét, xử lý kỷ luật.
Trường hợp đảng viên vi phạm đã qua đời tổ chức đảng xem xét, không xử lý kỷ luật, trừ trường hợp có vi phạm đặc biệt nghiêm trọng...
Về các hình thức kỷ luật của Đảng được quy định như sau:
Đối với tổ chức đảng: Khiển trách, cảnh cáo, giải tán.
Đối với đảng viên chính thức: Khiển trách, cảnh cáo, cách chức (nếu có chức vụ), khai trừ.
Đối với đảng viên dự bị: Khiến trách, cảnh cáo.
(Theo Tuổi Trẻ)











